Cảm nhận sau những ngày hoạt động tình nguyện hè tại trung tâm điều dưỡng Thương binh Thuận Thành

 Ngày 20/7/2017, xuất phát từ  Học viện kỹ thuật quân sự , Chúng tôi – 13 học viên, đại diện cho tuổi trẻ Học viện Kỹ thuật Quân sự đến thăm và tổ chức hoạt động tình nguyện tại trung tâm điều dưỡng Thương binh Thuận Thành – Bắc Ninh nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thương binh liệt sĩ ( 27/7/1947-27/7/2017).

     Ngày 20/7/2017, xuất phát từ  Học viện kỹ thuật quân sự , Chúng tôi – 13 học viên, đại diện cho tuổi trẻ Học viện Kỹ thuật Quân sự đến thăm và tổ chức hoạt động tình nguyện tại trung tâm điều dưỡng Thương binh Thuận Thành – Bắc Ninh nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thương binh liệt sĩ ( 27/7/1947-27/7/2017).

     Trung tâm điều dưỡng Thương binh Thuận Thành – nơi có những con người đã để  một phần máu thịt nơi chiến trường ác liệt hằng ngày vẫn đang phải tiếp tục điều trị, phục hồi để “chiến thắng bệnh tật”. Được thành lập từ ngày 3/4/1965 , Trung tâm là đơn vị nuôi dưỡng Thương – Bệnh binh nặng, tập trung có số lượng thương binh đông nhất và thương tật nặng nhất cả nước. Hơn 50 năm hoạt động, đơn vị đã tiếp nhận nuôi dưỡng, điều trị, phục hồi sức khỏe cho hơn 1000 các bác, các đồng chí bị thương từ khắp các chiến trường, miền quê ở hầu khắp các tỉnh trong toàn quốc. Hiện nay, trung tâm đang điều trị cho 96 bác, trong đó có 2 bác là thương binh từ thời kháng chiến chống Pháp, 60 bác là thương binh kháng chiến chống Đế quốc Mỹ, còn lại hơn 30 bác là thương binh tham gia chiến trường biên giới Tây Nam – Pol Pot.   Chúng tôi đến trung tâm trong những ngày mưa ảnh hưởng của cơn bão số 3, có lẽ cuộc sống thành thị chưa thể cho tôi biết hay chứng kiến bằng đời thực. Cảm nhận đầu tiên khi chúng tôi đặt chân xuống trung tâm, đó là cảm xúc dâng trào nghẹn ngào khi lần đầu được tận mắt những con người mộc mạc, giản dị, đang vật lộn với những cơn đau trái gió trở trời.  

     Ngày đầu tiên, chúng tôi đến thăm phòng của bác Nguyễn Văn Quý –  thương binh trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Gương mặt hiền hậu cùng nụ cười luôn hiện rõ trên khuôn mặt đang hằn lên những nếp nhăn theo năm tháng. Không chỉ riêng bác Quý, các bác Thương bệnh binh ở đây tỉ lệ thương tật đều trên 90%, mọi sinh hoạt đều gắn liền với chiến xe lăn, giường bệnh và sự giúp đỡ của gia đình, các hộ lý, y tá. Chúng tôi hỏi thăm sức khỏe, phụ giúp bác các công việc nhà, rồi lắng nghe những câu chuyện kể về chiến tranh hồi xưa.  “ Khi bác tham chiến ở biên giới, các cháu không biết được nó khốc liệt như thế nào đâu. Pol Pot nó diệt chủng lắm, xác người đầy rẫy các con đường, máu me thì tanh, thối um đến rợn người. Nhưng chiến trường là thế các cháu ạ, nhìn như thế ai mà chẳng sợ, chính bác cũng sợ, nhưng biết làm thế nào được. Phải bỏ qua nỗi sợ hãi đó, phải cầm súng tiến lên. Nếu chạy thì bọn chúng tìm được cũng bị giết chết, chi bằng chiến đấu, được chết trong vinh quang thì cũng xứng đáng hơn chứ”.  Cứ như thế, chúng tôi lắng nghe và nhớ như in những lời bác kể, bác bị thương trong 1 lần chiến đấu bị mảnh bom găm vào tủy sống, nên bị liệt nửa dưới, 2 chân teo tóp, không thể di chuyển được. 

     Chúng tôi hỏi: “ Bác bị như thế này bây giờ còn đau không?”

     “ Đau chứ!  Chẳng qua là vết thương nó cứ đau âm ỉ, lâu dần các bác sống cùng với nó nên cũng thành quen các cháu ạ, những ngày trái gió trở trời, mưa bão thế này, nó nhức và nhói lắm”.           

     Chúng tôi cũng được nghe những câu chuyện của các Bác thương binh khác, trong lòng mỗi học viên chúng tôi đều không khỏi bùi ngùi, xúc động. Hằng ngày phải vật lộn với những cơn đau, nhưng nụ cười lúc nào cũng nở trên môi của các Bác. Họ – những con người ý chí kiên cường, không ngại khó khăn, gian khổ, hi sinh, mất mát, chiến đấu anh dũng nơi chiến trường ác liệt, khi về với cuộc sống đời thường, họ lại trở thành những con người giản dị, mộc mạc chất phác, tuy quê quán các bác có ở nhiều miền khác nhau, vào ra các chiến trường khác nhau nhưng những sinh hoạt hằng ngày, mọi người đều rất vui vẻ, gắn kết.

     Đến thăm và hoạt động tình nguyện tại trung tâm điều dưỡng Thương binh Thuận Thành , chúng tôi mới cảm nhận và thấy được những sự hy sinh mất mát của các bác thương bệnh binh, có những  bác bị thương, ảnh hưởng do chất độc màu da cam, những di chứng, thương tật quá nặng, cộng với những suy tư, mặc cảm trong cuộc sống, một số bác thương binh chấp nhận không lấy chồng, không lấy vợ, một mình âm thầm chịu đựng, lấy anh em, lấy những người đồng đội ở khắp các chiến trường ở đây làm gia đình, đùm bọc, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, mang đến cho nhau tiếng cười, cùng nhau chiến đấu, vật lộn với những vết thương mà chiến tranh đã để lại. Hầu hết các bác thương binh ở đây bị thương cho chiến tranh, người cao tuổi nhất năm nay cũng đã 88 tuổi, duy nhất 1 người là thương binh trong thời kỳ xây dựng Tổ quốc và cũng là thương binh trẻ tuổi nhất.

     Nếu các bạn, ai đã một lần đến đây đều không khó để bắt gặp sự lạc quan, nghị lực phi thường của các bác: hình ảnh một nhóm các bác ngồi đánh cờ tướng, một nhóm thì ngồi uống nước trà nói chuyện, để cùng nhau chia sẻ cuộc sống, ôn lại kể những kỷ niệm xưa và cả những câu truyện tếu đời thường, có lẽ nhờ thế để các bác quên đi được những cơn đau bệnh tật, sống vui hơn, khỏe hơn.  

     Chắc hẳn trong chúng ta đều nhớ anh Đinh Văn Dương, người duy nhất còn sống sót trong vụ rơi máy bay Mi – 171 của Sư đoàn Phòng không 371 chở 21 cán bộ chiến sĩ bay huấn luyện nhảy dù bị rơi ở Thạch Thất – Hà Nội. Chúng tôi cũng có cơ hội được tiếp xúc và nói chuyện với anh.  Đã 3 năm trôi qua, nhưng ký ức về chuyến bay định mệnh ngày 7/7/2014 không thể xóa mờ đi trong tâm trí. Để có được như ngày hôm nay, anh đã cùng với  gia đình, đồng đội và các Bác sĩ, Y sĩ chiến đấu với 24 cuộc phẫu thuật trong 2 năm. Vụ tai nạn đã khiến cuộc sống của anh hoàn toàn thay đổi, nó đã cướp đi đôi chân, đôi tay, khiến cho khuôn mặt của anh bị biến dạng. Đôi mắt của anh mờ đi, sức khỏe không còn, khả năng lao động cũng mất, toàn bộ sinh hoạt của anh phụ thuộc vào những người thân trong gia đình. cuộc sống sau khi tai nạn, anh bị mất hết 2 chân, 2 tay, đâm ra làm việc gì cũng hết sức khó khăn, đánh răng thì anh cũng không tự đánh răng được, ăn cơm thì một là mẹ xúc, hai là vợ xúc… Trở về cuộc sống hằng ngày với hình hài không còn được nguyên vẹn,  nhưng nguồn động lực từ gia đình, đồng đội, bản lĩnh của một người lính, một lần nữa lại giúp anh vượt qua những mặc cảm, cố gắng sống tốt hơn, tự tin hơn, vì chúng tôi hiểu:  cuộc sống của anh giờ đây không phải chỉ cho riêng mình anh, mà cho những đồng đội đã hi sinh, cho xã hội và tiếp lửa cho thế hệ mai sau.  Chúng tôi cảm thấy tự hào và khâm phục nghị lực của anh, càng hiểu rõ hơn về cuộc đời người lính của anh.

     Chiến trường ác liệt là thế, nhưng nó không thể dập tắt được tinh thần lạc quan, yêu đời, thi vị của những người lính năm xưa. Thơ ca cách mạng là nguồn cổ vũ tinh thần cho những người lính. Đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ xuất thân trong thời chiến và ngay ở trung tâm điều dưỡng Thương binh Thuận Thành cũng thế. Trong 1 lần giao lưu, gặp mặt các bác nằm trong hội đồng Thương bệnh binh, chúng tôi được gặp bác Nguyễn Văn Bách. Bác tham gia kháng chiến chống đế quốc Mỹ, 3 lần bị thương và trong suốt quãng thời gian tham gia chiến trận, bác đã cho ra đời rất nhiều những bài thơ hay. Những bài thơ ấy được lưu lại trong 1 cuốn sổ cũ kỹ được cất giữ tại phòng truyền thống của Sư đoàn nơi bác đóng quân. Giao lưu với chúng tôi, bác nhớ và viết lại những dòng thơ ấy, đọc cho chúng tôi nghe. Giọng bác trầm ấm, nhưng pha lẫn hào hùng, oanh liệt và không kém phần hài hước. Bài thơ tôi chia sẻ với các bạn, là bài “Được O du kích dẫn đường”. Bài thơ được viết khi bác vừa ra viện trong một lần bị thương ở Quảng Trị.  Một bài thơ rất hay, nó vừa thể hiện được thời khắc ắc liệt của chiến trường lúc bấy giờ  và tâm hồn phơi phới lạc quan, yêu đời của người lính trẻ.

          Bài thơ  có đoạn:

          ” Hôm nay được ra viện

          Lại ba lô lên đường

          Vào Do Linh Quảng Trị

          Hai ngày học chính trị

          Cảm tình Đảng đầu tiên

          Thời gian trôi rất mau Mai lại về đơn vị

             ***

           Được hai O du kích

           Hôm nay lại dẫn đường

           Nói chuyện cười khúc khích

          Hỏi thăm tôi mới biết

           O người Bình Tả Đông

          Tôi hỏi đường dài không?

           O bảo hai ngày nữa

           Bỗng một loạt bom nổ

          O dẫn tôi xuống hầm

          Chờ cho ngớt tiếng bom

          Mình đi ngay anh ạ”

     Một người lính trẻ, đại diện cho cả một thế hệ anh hùng, lúc nào cũng lạc quan yêu đời, cho dù chiến trường có ác liệt đến đâu, bom đạn có tàn khốc đến đâu, vũ khí địch có tối tân hiện đại đến đâu cũng không thể dập tắt được ý chí và tinh thần của họ. Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta, mà phần lớn là thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất nước. Họ ngã xuống trên chiến trường, hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã mãi mãi không thể gặp lại người thân yêu nhất của mình.

     Có bao giờ các bạn nghĩ về sự thủy chung, son sắt của những người vợ, người mẹ Việt Nam anh hùng chưa? Qua hoạt động tình nguyện, tôi cũng băn khoăn tự hỏi lòng mình: Trong thời chiến, người người gia nhập quân đội, để lại đằng sau ở hậu phương những người thân yêu nhất. Những người mẹ, người vợ, vẫn ngày đêm mong ngóng tin tức, những lá thư của người chồng, người con của mình, và… đến khi chiến tranh qua đi, có những người mẹ mất con, những người vợ mất chồng, những người đã mãi mãi nằm xuống và không bao giờ quay trở lại. Các bác thương binh tại trung tâm điều dưỡng Thuận Thành là những người may mắn còn sống sót quay trở về, vết thương chiến tranh tuy không lấy đi sinh mạng, nhưng để lại nỗi đau, bệnh tật, và những người vợ ấy, họ vẫn một lòng thủy chung, chấp nhận thiệt thòi, vất vả, chăm sóc chồng trong những cơn đau trái gió trở trời mà không bước thêm một bước nữa. Cứ như thế, họ yêu thương, nương tựa, giúp đỡ nhau suốt gần 40 năm nay kể từ khi đất nước hoàn toàn được độc lập. Chúng tôi nghe bác kể chuyện, vừa cảm thấy xót xa, vừa cảm thấy khâm phục. Bác cho biết giờ gia đình bác rất hạnh phúc, yêu thương nhau, con cái thành đạt “ông trời không phụ lòng người các cháu ạ, sau bao nhiêu khó khăn như thế, giờ bác cũng thực sự được đền đáp…”. Những câu chuyện mà chúng tôi được nghe là một bài học cho chúng tôi về lịch sử, về sự hy sinh, sự cố gắng vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống, sự thủy chung son sắt.

          ” Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ giành phần ai”. Chúng tôi cảm thấy mình thật may mắn khi có được những trải nghiệm thật bổ ích, và đầy ý nghĩa ở nơi đây. Tôi cũng như các thành viên khác, thấu hiểu được rất nhiều điều: tinh thần, ý chí kiên cường của người lính năm xưa, tấm lòng thủy chung son sắt của những người vợ, sự lạc quan, yêu đời, vượt lên số phận,… Chúng ta ngày nay, rất nhiều người đang tích cực ngày đêm phấn đấu vì xã hội, đất nước,tuy nhiên không phải là không còn những người ngại khó ngại khổ, phó mặc cuộc sống, dựa dẫm, ỷ lại người khác, họ sợ thất bại, ngại đấu tranh.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chính họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi…, tinh thần của họ luôn sống với non sông Việt Nam”. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó. Các thế hệ người Việt Nam sẽ luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với những hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh. Cứ đến tháng bảy hàng năm, cả nước  tổ chức các hoạt động ” Đền ơn đáp nghĩa”, quan tâm đời sống các gia đình liệt sĩ, thương binh, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc phần mộ các liệt sĩ, tổ chức những hoạt động về nguồn đầy ý nghĩa. Tri ân những người hy sinh vì nước đã trở thành một nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội. Những việc làm đó còn có ý nghĩa giáo dục cho lớp trẻ hôm nay về một thời oanh liệt của đất nước, về đạo lý uống nước nhớ nguồn.    

     Bác Hồ cũng đã dặn : “ Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” , và đất nước Việt Nam có tươi đẹp hay vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, tất cả đều nhờ vào công học tập của các cháu” Đất nước đi ra từ chiến tranh, được sinh ra và sống trong cuộc sống hòa bình, chúng ta càng phải cố gắng, nỗ lực hơn nữa, phải ra sức học hỏi, trau dồi kiến thức, phụng sự cho tổ quốc, cho sự nghiệp CNH – HĐH, đưa đất nước đi lên, phát triển vươn ra tầm châu lục và thế giới.

     Ngày cuối cùng, chúng tôi đến chào các bác, tuy chỉ vỏn vẹn 7 ngày ngắn ngủi, thời gian không phải là ngắn, cũng không phải là dài, nhưng với tinh thần làm việc, trách nhiệm cao nhất, nhiệt tình nhất, chúng tôi đã để lại nơi đây những kỉ niệm đẹp, những ấn tượng về những học viên Học viện Kỹ thuật Quân sự. “Những ngày vừa qua, các cháu chắc phải vất vả lắm, nhưng nhìn các cháu tươi lắm, bác quý lắm, Bác chẳng có quà gì chia tay các cháu cả, bác rót cho mỗi người 1 cốc trà nóng xem như là quà chia tay, chúc các cháu học tập tốt và thành đạt, cám ơn tất cả các cháu” – Tâm sự của bác Lộc, thương binh trong kháng chiến chống Mỹ năm 1971.

     Một mùa tình nguyện  đầy ý nghĩa, mỗi người chúng tôi quay trở về trường tiếp tục học tập và công tác. Mỗi người đều mang trong mình những suy nghĩ riêng. Nhưng có những điểm chung trong những suy nghĩ ấy: là những bài học lịch sử, về sự hy sinh, vượt khó khăn của lớp người đi trước. Những bài học ấy nhắc nhở chúng tôi đến tinh thần trách nhiệm của mỗi người với bản thân, gia đình, đất nước, đến sự cố gắng của mỗi người trước mỗi khó khăn. Sức trẻ trong chúng tôi ở đây, chúng tôi – những học viên, được học tập và rèn luyện dưới mái trường quân đội, phải cố gắng hơn nữa, sống và làm việc hết mình, để giữ gìn, kế thừa và phát huy những thành quả mà cha ông để lại, phải ra sức học tập, rèn luyện tinh thần, ý chí vượt khó, không ngại gian khổ, trau dồi kiến thức, góp phần công sức nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng  đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mỗi chúng tôi đều suy nghĩ “…đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay…”    

                                                                                                                Nguyễn Văn Anh/d3   

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *