Nghiên cứu sinh Trương Quốc Bảo bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Học viện

 Sáng 05/11/2025, Phòng Sau đại học phối hợp với Viện Kỹ thuật Công trình đặc biệt tổ chức bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Học viện cho nghiên cứu sinh (NCS) Trương Quốc Bảo, Khóa 40, với đề tài: “Nghiên cứu vật liệu nhẹ EPS và XPS trong xây dựng nền đường đắp ở Việt Nam”, chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, mã số 9.58.02.05, do PGS. TS Phạm Hoàng Kiên (Trường Đại học Giao thông vận tải) và Thượng tá PGS. TS Vũ Anh Tuấn (Học viện KTQS) hướng dẫn khoa học.

     Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Học viện gồm các thành viên: Đại tá PGS. TS Hoàng Quốc Long – Học viện KTQS, Chủ tịch Hội đồng; GS. TS Phạm Huy Khang – Trường ĐH Giao thông vận tải, Phản biện 1; Đại tá GS. TS Phạm Cao Thăng – Học viện KTQS, Phản biện 2; GS. TS Vũ Đình Phụng – Trường ĐH Thủy lợi, Phản biện 3; Trung tá PGS. TS Trần Nam Hưng – Học viện KTQS, Thư ký; PGS. TS Nguyễn Thanh Sang – Trường ĐH Giao thông vận tải, Ủy viên; PGS. TS Phạm Đức Thọ – Trường ĐH Mỏ-Địa chất, Ủy viên.

     Tham dự buổi bảo vệ còn có các nhà khoa học đến từ các trường đại học, cơ sở nghiên cứu trong và ngoài Học viện, các bạn bè, đồng nghiệp và người thân của NCS.

Quang cảnh buổi bảo vệ

     Sau khi xem xét hồ sơ luận án, nghe NCS trình bày nội dung nghiên cứu và trả lời câu hỏi của các thành viên Hội đồng, Hội đồng đánh giá cao ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án.

     * Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

     Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của hạ tầng giao thông hiện nay, với nhiều tuyến đường cao tốc, quốc lộ được xây dựng mới và mở rộng, việc tìm kiếm các giải pháp tối ưu hóa cấu trúc nền đường đắp nhằm giảm tải trọng và nâng cao độ ổn định công trình cũng như cải thiện tính kinh tế – kỹ thuật là vấn đề cấp thiết. Các giải pháp xử lý nền đất yếu như bấc thấm, hút chân không, bệ phản áp hay cọc gia cường… tuy đã được áp dụng nhưng chưa khắc phục triệt để hiện tượng lún, trượt trong điều kiện địa chất phức tạp ở Việt Nam.

     Ứng dụng vật liệu nhẹ Expanded Polystyrene (EPS) và Extruded Polystyrene (XPS) là một giải pháp làm giảm tải trọng, nâng cao ổn định cho nền đường đắp trên đất yếu đã được nhiều nước áp dụng. Đây là vật liệu có khối lượng riêng chỉ bằng 1/100 đất tự nhiên, có khả năng giảm tải trọng tác dụng lên nền đất yếu, giúp rút ngắn tiến độ và nâng cao độ ổn định của công trình giao thông.

     Trong bối cảnh thiếu vật liệu đất đắp cho các dự án như hiện nay, việc nghiên cứu ứng dụng vật liệu nhẹ EPS và XPS để thay thế đất đắp truyền thống là một giải pháp có tính khả thi và mang tính thời sự cao. Tuy nhiên, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn ngành, định mức xây dựng, hay hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến vật liệu này. Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay mặc dù cũng đã có một số công trình nghiên cứu về EPS, nhưng chưa nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về các tính chất vật lý và ứng xử cơ học của cả EPS và XPS; chưa xác định mô hình vật liệu và các tham số mô hình ứng dụng trong tính toán, thiết kế tổng thể nền đường đắp; cũng như chưa nghiên cứu ảnh hưởng của các tham số (chiều cao nền đường đắp, tỉ lệ vật liệu EPS và XPS trong nền đắp, loại vật liệu nhẹ) đến sự ổn định của nền đường đắp.

     * Các kết quả chính đạt được

     – Đã nghiên cứu, xác định được đặc tính cơ lý và ứng xử cơ học của vật liệu EPS và XPS. Xác định được các tham số cường độ chống cắt và hệ số ma sát đối với EPS và XPS, góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ công tác nghiên cứu, tính toán, thiết kế khi ứng dụng vật liệu EPS và XPS.

     – Đã đề xuất được mô hình vật liệu và các tham số mô hình tương ứng đối với vật liệu EPS và XPS phục vụ tính toán thiết kế tổng thể nền đường đắp.

     – Nghiên cứu thử nghiệm hiện trường nhằm kiểm nghiệm, đánh giá khả năng sử dụng vật liệu EPS, XPS xây dựng nền đường đắp trong điều kiện Việt Nam.

     – Xây dựng được mô hình số phần tử hữu hạn để mô phỏng, kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu thực nghiệm hiện trường. Đề xuất hệ số hiệu chỉnh khi tính lún bằng mô hình số, mô hình thực nghiệm và phương pháp giải tích. Đồng thời, sử dụng mô hình số để khảo sát, phân tích, đánh giá các tham số ảnh hưởng đến ứng xử của nền đường đắp sử dụng vật liệu EPS và XPS.

     – Nghiên cứu, đề xuất các yêu cầu đối với vật liệu EPS, XPS dùng trong nền đường đắp và thiết kế cấu tạo điển hình, các bước thi công đối với nền đường đắp sử dụng vật liệu EPS, XPS tại Việt Nam.

     – Các kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung một số cơ sở dữ liệu khoa học cho lĩnh vực vật liệu và kết cấu nền đường đắp nhẹ, đồng thời giúp làm rõ cơ chế làm việc của nền EPS/XPS dưới tác dụng của tải trọng tĩnh, hỗ trợ cho các nghiên cứu và tiêu chuẩn hóa. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể hỗ trợ các cơ quan quản lý, đơn vị tư vấn thiết kế và thi công xây dựng có thêm giải pháp trong xây dựng nền đường đắp trên đất yếu. Luận án cũng có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về sử dụng EPS/XPS trong xây dựng giao thông hiện nay tại Việt Nam.

     * Những đóng góp mới:

     – Nghiên cứu thực nghiệm xác định được tham số mô hình vật liệu đối với hai loại vật liệu nhẹ EPS (D-20) và XPS (DX-24H), làm cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trong tính toán, thiết kế nền đường đắp sử dụng vật liệu nhẹ EPS và XPS trong điều kiện Việt Nam.

     – Nghiên cứu ảnh hưởng các tham số (chiều cao nền đường đắp, tỉ lệ vật liệu EPS và XPS trong nền đắp, loại vật liệu nhẹ) đến sự ổn định của nền đường đắp, đã đưa ra các khuyến nghị, làm cơ sở tham khảo trong thiết kế nền đường đắp sử dụng vật liệu EPS và XPS.

     – Đề xuất thiết kế cấu tạo, trình tự các bước thi công khi sử dụng vật liệu EPS, XPS trong xây dựng nền đường đắp tại Việt Nam.

Chúc mừng NCS Trương Quốc Bảo đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Học viện

     Hội đồng nhận định luận án tiến sĩ của NCS Trương Quốc Bảo là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có phương pháp khoa học, nội dung phong phú, kết quả đáng tin cậy, được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín. Kết quả bỏ phiếu 100% (07/07) thành viên Hội đồng nhất trí thông qua, đề nghị Học viện KTQS và Bộ Giáo dục & Đào tạo công nhận học vị, cấp bằng tiến sĩ cho NCS Trương Quốc Bảo.

Nguyễn Thị Thu Hường – Phòng SĐH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *